Công tác ép cọc

  • Giảm giá thành kinh phí đầu tư
  • Không gây ồn ào, mất vệ sinh môi trường.
  • Không làm nứt các cấu trúc công trình lân cận như đóng búa hơi
  • Khách hàng có thể xác định được độ tải chính xác tới 98% nhờ vào đồng hồ áp kế đo áp lực của dầu và độ tải được chất trên giàn, nhằm mục đích xác định được tải thiết kế mà không cần đến phương pháp thử tải tĩnh.
  • Khách hàng có thể kiểm soát được chất lượng bê tông thông qua mắt thường, bắn mác, nén mẫu, khoan mẫu bê tông mà không phải lo sợ bê tông bị thối rỗ như cọc nhồi đối với cồng trình nhà dân dụng.
  • Quý khách hàng có thể rút ngắn được thời gian thi công do cọc đã được đúc sẵn tại nhà máy và vận chuyển đến công trình thi công, khách hàng không cần phải lấy đất, vận chuyển đất đi nơi khác đổ như phương pháp móng băng và khoan cọc nhồi cũng không cần phải san lấp đá cát lại như cũ.
  • Cọc ép là cọc được hạ bằng năng lượng tĩnh, không gây nên xung lượng lên đầu cọc.
  • Tải trọng thiết kế là giá trị tải trọng do Thiết kế dự tính tác dụng lên cọc.
  • Lực ép nhỏ nhất (Pmin) là lực ép do Thiết kế quy định để đảm bảo tải trọng thiết kế lên cọc, thông thường lấy bằng 150 → 200% tải trọng thiết kế.
  • Lực ép lớn nhất (Pmax) là lực ép do Thiết kế quy định, không vượt quá sức chịu tải của vật liệu cọc, được tính toán theo kết quả xuyên tĩnh, khi không có kết quả này thì thường lấy bằng 200 → 300% tải trọng thiết kế.
  • Việc lựa chọn và sử dụng phương pháp nào phụ thuộc vào địa chất công trình và vị trí công trình, ngoài ra còn phụ thuộc vào chiều dài đoạn cọc và máy móc thiết bị phục vụ ép cọc để đưa ra phương pháp thi công: như búa đóng, ép neo, ép tải, khoan cọc nhồi, …
  • Đơn vị thi công cung cấp giấy kiểm định đồng hồ và giàn ép cọc thủy lực, trong kết quả kiểm định có bảng tra chỉ số trên đồng hồ (kg/cm2) và tương đương với chỉ số này là lực ép đầu cọc (Tấn). Hai số liệu này quan hệ với nhau bằng “phương trình quan hệ”.
  • Khả năng kiểm tra chất lượng tốt hơn: từng đoạn cọc được ép thử dưới lực ép và ta xác định được sức chịu tải của cọc qua lực ép cuối cùng

Chuẩn bị mặt bằng thi công

  • Vận chuyển cọc bêtông đến công trình. Phải tập kết cọc trước ngày ép từ 1 đến 2 ngày.
  • Khu xếp cọc phải đặt ngoài khu vực ép cọc, đường đi vận chuyển cọc phải bằng phẳng, không gồ ghề lồi lõm.
  • Trước khi đem cọc đi ép đại trà, phải ép thí nghiệm 1 – 2% số lượng cọc.

Các yêu cầu kỹ thuật đối với đoạn ép cọc

  • Bản mã nối phải phẳng, không được vênh.
  • Bề mặt ở đầu hai đoạn cọc nối phải tiếp xúc khít với nhau.
  • Kích thước các bản mã đúng với thiết kế và phải ≥ 4mm.
  • Trục của đoạn cọc được nối trùng với phương nén.
  • Kiểm tra kích thước đường hàn so với thiết kế, đường hàn nối cọc phải có trên cả 4 mặt của cọc. Trên mỗi mặt cọc, chiều dài đường hàn không nhỏ hơn 10cm.

Yêu cầu đối với việc hàn nối cọc:

  • Trục của đoạn cọc được nối trùng với phương nén.
  • Bề mặt bê tông ở 2 đầu đọc cọc phải tiếp xúc khít với nhau, trường hợp tiếp xúc không khít phải có biện pháp làm khít.
  • Kích thước đường hàn phải đảm bảo so với thiết kế.
  • Đường hàn nối các đoạn cọc phải có đều trên cả 4 mặt của cọc theo thiết kế.

So sánh các phương pháp thi công ép cọc

Để khách hàng, chủ đầu tư, kiến trúc sư, thiết kế, kỹ sư, kỹ thuật có cái nhìn khái quát về phương pháp xử lý nền móng, xử lý chống lún tốt, an toàn, đảm bảo kỹ thuật, rút ngắn thời gian thi công, giảm giá thành chi phí đầu tư dự  án ban đầu, đảm bảo tính thẩm mỹ, bảo vệ môi trường … Vậy tôi và các bạn cùng nhau nêu lên ưu, khuyết điểm đồng thời làm một phép tính và cùng nhau so sánh nhé!

۞PHƯƠNG PHÁP ÉP CỌC BÊ TÔNG CỐT THÉP.

Ưu điểm:

– Giảm giá thành kinh phí đầu tư.

– Hạn chế gây ồn ào, không gây mất vệ sinh môi trường.

– Độ kháng uốn, module lực rất là lớn.

– Hạn chế làm nứt các cấu trúc công trình lân cận không như đóng búa hơi.

– Khách hàng có thể xác định được độ tải chính xác tới 95% nhờ vào đồng hồ áp kế đo áp lực của dầu và độ tải trọng được chất trên giàn, nhằm mục đích xác định được tải thiết kế mà không cần đến phương pháp kiểm tra lại thử tải tĩnh.

– Khách hàng có thể kiểm soát được chất lượng bê tông thông qua mắt thường, bắn mác, nén mẫu, khoan mẫu bê tông mà không phải lo sợ bê tông bị thối, hoặc bị mạch nước ngầm xâm nhập dẫn tới bị rỗ cọc như nhồi đối với công trình nhà dân dụng (Đường kính cọc nhồi < D600).

– Quý khách hàng có thể rút ngắn được thời gian thi công do cọc đã được đúc sẵn tại nhà máy và vận chuyển đến công trình thi công, khách hàng không cần phải lấy đất, vận chuyển đất đi nơi khác đổ như phương pháp móng băng và khoan cọc nhồi cũng không cần phải san lấp đá, cát lại như hiện trạng ban đầu.

Hình ảnh dàn ép cọc:

Dàn ép neo

Dàn tải sắt – Ép 140 tấn

Dàn tải bê tông – Ép 150 tấn

Dàn bê tông – Ép 200 tấn

Nhược điểm:

Do tính đặc thù chung của công việc nên toàn bộ thiết bị, cọc sẽ được di dời vận chuyển vào ban đêm nhằm giảm thiểu ùn tắc và tai nan giao thông cho những người đi đường.

۞PHƯƠNG PHÁP THI CÔNG KHOAN CỌC NHỒI

Ưu điểm:

– Khách hàng có thể làm một số công trình lớn như cầu đường, nhà cao tầng những công trình cần độ kháng uốn cao, tải trên đầu cọc cao, hoặc những công trình mà giàn ép không thể đưa vào được như giữa sông, tường vây hoặc mặt bằng quá hẹp.

Ví dụ:

CÔNG TRÌNH: CẦU SÀI SÒN 2 – TPHCM

Nhược điểm:

– Khách hàng cần phải có khâu kiểm soát chất lượng khắt khe như khoan thăm dò địa chất trước khi làm, tốn kém về kinh phí, mất thời gian thi công, mất vệ sinh môi trường do lượng cát đá, đất bùn được khoan lên, phải lắng bùn và mang đi nơi khác xử lý, đồng thời phải đổ lại cát hoặc là xà bần sau khi đổ móng và đế móng đối với một số công trình.

– Để kiểm soát chất lượng của phương pháp khoan cọc nhồi này, khách hàng cần phải khoan với kích thước từ 600-800 trở lên và cần phải đặt ống siêu âm để kiển tra độ sâu cũng như chất lượng của cọc về khả năng mác bê tông, sắt thép, mạch nước ngầm dẫn tới bị rỗ cọc cũng như khả năng thối của bê tông hoặc nhiễm bùn đất. Và nếu như khách hàng muốn kiểm tra chính xác về sức chịu tải tối thiểu (­Pmin) hoặc sức chịu tải tối đa (Pmax) thì quý khách hàng cần có thêm một phương pháp kiểm tra nữa là thử tải tĩnh. Chúng sẽ gây mất thời gian, tốn kém về kinh tế.

Hình ảnh minh họa

۞PHƯƠNG PHÁP THI CÔNG ĐÓNG BÚA HƠI (NÉN ĐỘNG)

Ưu điểm:

– Với phương pháp này quý khách hàng có thể thi công trên địa hình phức tạp như: Sông nước, mặt bằng lầy lún, không bằng phẳng, hay cọc cần có độ xiên do tính chất kỹ thuật và yêu của công trình: như nhịp giữa của cầu, móng mố cầu hay cầu cảng.

– Chúng có thể thi công được cả trên cạn lẫn trên xà lan (dưới nước).

Hình ảnh minh họa

Nhược điểm:

Phương pháp này sẽ cần kinh phí khá lớn, mặt bằng trống vì tiếng ồn lớn, độ rung lớn có thể làm nứt các công trình lân cận cho nên những công trình có thể làm được bằng phương pháp đóng búa hơi thì chúng phải được cách xa nhà dân, khu dân cư, thời gian thi công dài và khó đưa thiết bị vào để thi công, ảnh hưởng nhiều tới môi trường xung quanh.

Hình ảnh minh họa

۞PHƯƠNG PHÁP ÉP CỪ TRÀM / TRE (PHƯƠNG PHÁP MÓNG BĂNG)

Ưu điểm:

Khách hàng có thể giảm kinh phí đầu tư đối với khu vực mà nền địa chất là bùn, sình lầy. Nhưng chúng lại rất phù hợp với những mặt bằng chật, hẹp. Máy móc và vật tư thi công khá là dễ tìm kiếm ở một số khu vực như nông thôn hoặc khu vực mà công nghệ chưa thịnh hành.

Đối với phương pháp làm móng băng chúng sẽ giúp là gia cố cứng bề mặt và không làm cho móng nhà bị lún, nứt cục bộ thế nhưng không phải địa chất nào chúng ta cũng làm được.

Ép cừ tràm

Ép cọc tre

Nhược điểm:

– Tuổi thọ của công trình không cao bởi đối với phương pháp này thì chúng chỉ mang tính gia cố bề mặt, tránh sụt lún cục bộ, cây tre hoặc chàm rất nhanh bị mục nếu khu vực đó là đất không có nước thường xuyên.

– Chúng ta khó mà có thể xác định kiểm tra độ tải thực chất của chúng ngay lúc đó.

– Chúng ta cũng phải mang đất, đá đi và phải mang đất, đá, cát lại sau khi chúng ép xong. Ép cọc chàm hoặc tre hay làm móng băng cũng khá tốn kém về tài chính, kéo dài thời gian thi công, gây ô nhiễm môi trường, đặc biệt là tỉ lệ sạt lở những công trình lân cận là rất cao nếu như chúng ta không có biện pháp chống sạt lở tốt, bởi địa chất hằng năm sẽ thay đổi ít nhiều mà mắt thường chúng ta không thể nhìn thấy được, bên cạnh đó chất đất cũng không đồng nhất cho nên chúng ta cũng khó xác định chính xác độ tải trên mỗi móng cột.

– Với dộ sụt tự nhiên do tác động mạnh của nước ngầm – nắng – mưa và độ tải nén của tòa nhà, hằng năm sẽ làm cho tòa nhà của chúng ta bị lún một cách tự nhiên mà chúng ta không thể kiểm soát được dẫn tới tuổi thọ không dài, độ an toàn không cao, thẩm mỹ không đẹp – Và đây là điều mà chúng ta không hề mong muốn.